Có bao giờ giữa những bộn bề hối hả, bạn cho mình một trạm nghỉ, tĩnh lặng ngước nhìn lên bầu trời mênh mông hay cúi xuống chạm tay vào nền đất vững chãi dưới chân, và tự hỏi: Tại sao Vũ trụ lại tồn tại lâu đến thế? Hàng tỷ năm trôi qua, biết bao triều đại sụp đổ, biết bao kiếp nhân sinh vội vã đến rồi đi, nhưng bầu trời vẫn ở đó bao dung, mặt đất vẫn lầm lụi nâng đỡ vạn vật.
Lão Tử cũng từng đứng trước đất trời bao la ấy. Và trong chương 7 của Đạo Đức Kinh, ông đúc kết ra một chân lý khiến chúng ta phải giật mình soi lại toàn bộ nếp sống của chính mình. Chỉ bằng vài dòng mộc mạc, ông chỉ ra một nghịch lý vĩ đại: Chìa khóa để vươn tới sự trường tồn, để thành tựu được bản thân, lại nằm ở chính sự buông bỏ cái tôi ích kỷ.
Chúng ta hãy cùng gác lại những toan tính thường ngày, lật mở chương 7 để ngẫm và bóc tách từng lớp ý nghĩa sâu thẳm bên trong.
“Thiên trường địa cửu.
Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sinh, cố năng trường sinh.
Thị dĩ thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn.
Phi dĩ kỳ vô tư da? Cố năng thành kỳ tư.”
(Tạm dịch: Trời dài đất lâu. Trời đất sở dĩ có thể trường tồn, là vì không sống cho riêng mình, cho nên mới được trường sinh. Vì vậy, bậc thánh nhân đặt thân mình ở sau mà lại được lên trước, đặt thân mình ra ngoài (quên mình) mà lại được bảo tồn. Chẳng phải vì vô tư (không có tư lợi) sao? Cho nên mới làm nên được việc riêng của mình.)
Ngay từ câu mở đầu: “Thiên trường địa cửu. Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sinh, cố năng trường sinh”, Lão Tử đã đi thẳng vào cơ chế cốt lõi của vũ trụ. Ông quan sát tự nhiên và nhận ra một sự thật cực kỳ giản dị: Trời Đất trường tồn vì luôn “bất tự sinh” – không bao giờ vận hành chỉ để vun vén, nuôi dưỡng cho riêng bản thân mình.
Hãy ngẫm mà xem. Ánh nắng chói chang mỗi sớm mai sưởi ấm muôn loài, nhưng vầng thái dương có bao giờ giữ lại chút hơi ấm nào làm của riêng? Đất đai nhọc nhằn ấp ủ hạt mầm, vắt kiệt mình sinh ra cây cối, lúa gạo nuôi sống nhân loại, nhưng Đất có bao giờ tự ăn quả ngọt do chính mình làm ra? Trời Đất cứ vô tâm, vô tình, hồn nhiên cống hiến toàn bộ năng lượng cho vạn vật. Tạo Hóa không tích cóp, không tranh giành, chẳng mưu toan vơ vét lợi ích. Và chính nhờ cái sự “không sống cho riêng mình” ấy, luồng năng lượng tự nhiên không bao giờ bị tắc nghẽn, chu kỳ tuần hoàn cứ thế tiếp nối, vĩnh cửu và bất tử.
Quay lại nhìn con người chúng ta. Bản năng sinh tồn nơi trần thế thường xúi giục ta phải “tự sinh” – nghĩa là lúc nào cũng phải vun vén cho cái tôi của mình trước nhất. Ta khao khát vơ vét thật nhiều tiền bạc, quyền lực, danh vọng để đắp thành cái cốt bảo vệ bản thân. Nhưng trớ trêu thay, càng khư khư ôm giữ, ta càng nhanh kiệt quệ. Một người lúc nào cũng nơm nớp lo bị kẻ khác hãm hại, lúc nào cũng tính toán thiệt hơn từng đồng từng cắc, tâm trí sẽ luôn bị kéo căng như dây đàn. Cơ thể bệnh tật, tinh thần héo úa, các mối quan hệ rạn nứt vì sự ích kỷ. Cái tâm tham lam muốn vơ vét lợi ích để kéo dài sự sống lại chính là liều thuốc độc giết chết sự bình an của con người nhanh nhất.
Thấu triệt được đạo lý ấy của Trời Đất, người hiểu Đạo lập tức mang quy luật đó ứng dụng vào đời sống: “Thị dĩ thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn.”
Câu nói này phơi bày một nghệ thuật sống, nghệ thuật lãnh đạo đỉnh cao: Lùi lại để tiến lên.
“Hậu kỳ thân” là tự đặt mình ở phía sau. Trong một đám đông luôn chen lấn, xô đẩy để giẫm đạp lên nhau giành vị trí số một, người thấu Đạo mỉm cười lùi lại một bước, nhường chỗ tốt cho người khác. Thế nhưng, cái vi diệu của tự nhiên lại nằm ở chữ “nhi thân tiên”. Chính sự khiêm nhường, tĩnh tại lùi bước ấy lại thu phục được trọn vẹn lòng người. Khi ta không nôn nóng tranh giành vinh quang, tập thể tự nhiên cảm thấy an tâm, tin tưởng và tự nguyện suy tôn ta lên vị trí dẫn đường.
Bạn cứ nhìn vào một đội ngũ, một xưởng máy hay một phòng nghiên cứu. Nếu anh sếp lúc nào cũng vỗ ngực xưng tên, vơ hết công lao chất xám của anh em về mình, đổ lỗi khi dự án gãy đổ thì sớm muộn cũng chẳng ai phục. Tổ chức lúc đó lỏng lẻo, rệu rã, người ta đi làm chỉ vì miếng cơm hoặc vì sợ hãi. Nhưng một người lãnh đạo biết lùi lại, tạo không gian cho anh em tỏa sáng, đứng ra nhận sào chịu báng khi có sóng gió, nhường lại hào quang khi sản phẩm thành công thì sao? Nhờ sự lùi lại ấy, họ thu phục được trọn vẹn nhân tâm. Anh em tự nguyện gắn bó, dốc lòng cống hiến. Lùi ra sau mà thực chất lại là người dẫn đường vững chãi nhất.
“Ngoại kỳ thân” là đặt bản thân mình ra ngoài sự được mất, quên đi cái ngã cá nhân. Khi xắn tay áo vào giải quyết một bài toán khó, đừng để tâm trí bị vướng bận bởi những toan tính kiểu “làm thế này mình có được thăng chức không”, “có ai vỗ tay tán thưởng mình không”. Cứ hồn nhiên, tận tâm mà cống hiến giá trị. Và kết quả là “thân tồn” – bản thân con người ấy lại được bảo tồn trọn vẹn. Khi bạn không màng tranh giành vinh hoa với ai, tự nhiên thế gian không ai có thể tranh giành với bạn. Lưỡi gươm đố kỵ chốn công sở hay thương trường chẳng có lý do gì để chĩa vào một người không mang dã tâm chiếm đoạt.
Lão Tử chốt hạ lại bằng một đòn bẩy tư duy cực kỳ sắc bén: “Phi dĩ kỳ vô tư da? Cố năng thành kỳ tư.”
Việc lùi lại phía sau, việc quên mình cống hiến hoàn toàn không phải là một sự hy sinh mù quáng, cam chịu hay ngốc nghếch. Nó thuận theo tuyệt đối quy luật tự nhiên. Sự “vô tư” ở đây không phải là ngây ngô khờ khạo, mà là hành động không xuất phát từ tư lợi cá nhân hẹp hòi. Nhờ cái tâm không mưu tính ấy, vạn vật và lòng người tự động hội tụ lại để mang đến kết quả trọn vẹn nhất (“thành kỳ tư”).
Mang chân lý này vào việc làm sản phẩm hay R&D, ta sẽ thấy sự vi diệu. Nếu bắt tay vào thiết kế một cỗ máy hay xây dựng một nền tảng chỉ với mục đích moi được tiền của người dùng càng nhanh càng tốt, ta rất dễ sa vào thủ đoạn cắt xén, làm ẩu. Dòng tiền có thể ập đến chớp nhoáng, nhưng thương hiệu sớm muộn cũng sụp đổ. Nhưng nếu bạn làm việc bằng cái tâm “vô tư” – khát khao tạo ra một giải pháp thực sự tử tế để gỡ rối cho người đời, dồn hết chất xám để làm ra giá trị thật. Khách hàng sử dụng, cảm nhận được sự chân thành đó, họ tự động mang tiền đến và gắn bó sâu sắc. Chẳng phải lúc đó, sự “vô tư” gieo mầm đã tự động giúp bạn “thành kỳ tư” – gặt hái được sự thịnh vượng bền vững hay sao?
Trong việc học tập và chia sẻ tri thức cũng thế. Nhiều người khư khư giấu nghề, có chút kỹ năng chuyên môn là giấu nhẹm đi vì sợ đồng nghiệp học lỏm, sợ mất vị thế. Đó là cái “tư” trói buộc. Người hiểu Đạo luôn dung dị sẻ chia. Quá trình vô tư chia sẻ ấy chính là lúc ta tự rà soát lại lỗ hổng của mình, mở rộng góc nhìn từ sự phản biện của người khác, để rồi vươn lên thành một người thầy, một chuyên gia thực thụ được tập thể nể trọng.
Nhìn rộng ra trong tổ ấm gia đình, nếp sống này vẫn sáng ngời. Tình yêu thương nếu pha lẫn sự ích kỷ, tính sở hữu quá cao sẽ biến thành sự kiểm soát ngột ngạt. Ép con cái phải chọn ngành nghề bố mẹ thích để thỏa mãn sĩ diện gia đình, bắt bạn đời phải sống theo khuôn mẫu của mình… cái khao khát “tự sinh” ấy sẽ âm thầm bóp nghẹt mọi mối quan hệ. Yêu thương thuận theo tự nhiên là buông lỏng bàn tay, tạo ra một không gian bao dung để người kia được tự do là chính họ (vô tư). Trái tim con người mầu nhiệm lắm, khi không bị xiềng xích, họ sẽ tự nguyện tìm về và gắn bó sâu sắc hơn bất cứ tờ giấy cam kết nào.
Gấp lại chương 7, Lão Tử phơi bày trước mắt ta một quy luật nhân quả tuyệt đẹp: Bạn càng khư khư ôm chặt, bạn càng nhanh kiệt sức. Bạn càng cống hiến không toan tính, mọi thứ tinh hoa lại tự động quy tụ về nơi bạn.
Đạo không ép chúng ta phải vứt bỏ cuộc sống để đi tu hay chịu thiệt thòi oán ức cho thiên hạ. Ngược lại, Đạo vạch ra con đường khôn ngoan nhất, êm ái nhất để sống bình an mà vẫn làm nên việc lớn. Cứ lặng lẽ quan sát bầu trời, thực hành sự khiêm nhường, lùi một bước trước sự vội vã tranh giành của đám đông, thu nhỏ cái “tôi” lại để dung chứa được nhiều hơn. Tự nhiên ta thấy đời nhẹ bẫng. Công việc trôi chảy, nhân tâm quy tụ, nội lực tự nhiên sinh sôi. Ấy chính là cách con người chạm tay vào sự trường tồn, mộc mạc mà vĩ đại như chính đất trời bao la.





